. Đề tài “THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ PHẨM ĐÀ NẴNG toanvan file.doc
30,000 ₫
- Mô tả
- Đánh giá (0)
- Demo thử
Mô tả
LỜI MỞ ĐẦU
&
Từ trước tới nay, hoạt động thương mại luôn giữ vai trò quan trọng và là nền tảng cho sự phát triển của mọi quốc gia. Vì vậy, tất cả các nước trên thế giới đều nỗ lực nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại trong và ngoài nước. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, điều đó đã được thể hiện rõ trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO trong năm 2007.
Bản chất của hoạt động thương mại chính là việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Vì vậy, hoạt động thương mại của một cá nhân, tổ chức hay tổng thể của cả một quốc gia chỉ có thể phát triển khi quốc gia đó có một hành lang pháp lý, các quy định pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa. Kể từ khi gia nhập WTO, tầm quan trọng của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng đối với nước ta càng được thể hiện rõ ràng. Với mục đích tạo một hành lang pháp lý chuẩn mực cũng như dưới sức ép của việc chấp nhận những luật lệ chung trên thế giới, hệ thống pháp luật của nước ta đã có những thay đổi căn bản như việc ban hành Bộ luật dân sự 2005 và Luật Thương Mại 2005.
Với sự ra đời của các đạo luật nêu trên, quy định về pháp luật hợp đồng hiện nay đã khá đầy đủ và có hệ thống. Tuy nhiên việc áp dụng các quy định của pháp luật trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng vẫn đang có nhiều vấn đề cần xem xét. Đề tài “THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ PHẨM ĐÀ NẴNG” dưới đây trình bày một cách khái quát về tình hình áp dụng pháp luật trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ở Công ty cổ phần Công nghệ phẩm Đà Nẵng – công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại – sản xuất – xuất khẩu và dịch vụ.
Đề tài này tập trung phân tích về việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty, những khó khăn, thuận lợi mà không ty gặp phải trong quá trình thực hiện hợp đồng để từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng nói chung và hoạt động kinh doanh của công ty nói riêng.
Bài viết này, ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm ba phần chính:
Chương 1. Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam
Chương 2. Hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại CTCP Công nghệ phẩm Đà Nẵng
Chương 3. Một số nhận xét về hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh tại CTCP Công nghệ phẩm Đà Nẵng.
Chuyên đề còn nhiều thiếu xót, rất mong nhận được sự đóng góp từ quý thầy (cô), các cô chú, anh chị trong công ty và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thương
Chương 1. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM
1.1. HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng, quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận[1].
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các chủ thể của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa. HĐMBHH là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản. Theo Điều 428 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.”
1.1.1.2. Đặc điểm
– Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là các thương nhân với nhau hoặc là thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủ thể đó chọn luật áp dụng là Luật Thương mại.
– Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 là hàng hóa quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương mại 2005.
– Quá trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.
1.1.2. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa gồm có 2 loại: hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước: các hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện trong lãnh thổ quốc gia, không có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực hải quan riêng biệt có quy chế riêng như khu chế xuất, khu ngoại quan.
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khoản. Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương[2].
1.1.3. Cơ sở pháp lý của HĐMBHH
Điều 4 LTM 2005 quy định: Hoạt động thương mại phải tuân theo LTM và pháp luật có liên quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác (luật chuyên ngành) thì áp dụng quy định của luật đó. Nếu hoạt động thương mại không được quy định trong LTM 2005 và trong các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS 2005. Có nghĩa là: Một hoạt động thương mại cụ thể, nếu có luật chuyên ngành điều chỉnh thì áp dụng luật chuyên ngành đó, nếu luật chuyên ngành không điều chỉnh thì áp dụng LTM 2005. Nếu cả luật chuyên ngành, LTM 2005 đều không điều chỉnh thì áp dụng quy định của BLDS 2005. Các bên không có quyền lựa chọn Luật áp dụng cho HĐMBHH trong nước trừ hợp đồng giữa thương nhân và một bên không nhằm mục đích sinh lời. Bên không nhằm mục đích sinh lời có quyền chọn Luật áp dụng là BLDS 2005 hoặc LTM 2005.
Đối với HĐMBHH quốc tế, các bên có thể lựa chọn Luật áp dụng cho hợp đồng: Điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hoặc pháp luật quốc gia. Trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy đinh áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó. Các bên được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[3].
Các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập mà các bên đã biết hoặc phải biết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định khác, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với nguyên tắc của pháp luật.
1.2. CHẾ ĐỘ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.2.1. Nguyên tắc ký kết
Bất kì một loại hợp đồng nói chung nào cũng cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đây chính là căn cứ pháp lý để hợp đồng có hiệu lực trước pháp luật. Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa cần phải theo các nguyên tắc[4]:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội:
Các bên tham gia có quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật đảm bảo, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng:
Các bên tham gia hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể bị coi là vô hiệu.
Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại. Trong quá trình xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên tham gia đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau.
Các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào.
1.2.2. Chủ thể giao kết hợp đồng
Chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được cấu thành bởi thương nhân với thương nhân hoặc thương nhân với một bên không phải là thương nhân.
Chủ thể là thương nhân: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh[5]. Thương nhân có nghĩa vụ phải đăng ký kinh doanh. Và thương nhân khi là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá phải phù hợp với phạm vi và lĩnh vực của họ trong đăng kí kinh doanh.
Chủ thể không phải là thương nhân: Chủ thể khác không phải là thương nhân khi kí
[1] Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005
[2] Khoản 2 Điều 27 Luật thương mại 2005
[3] Điều 5 LTM 2005
[4] Diều 389 Bộ luật dân sự 2005
[5] Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005







Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.